BÀN VỀ HÌNH THỨC QUY ĐỊNH ĐỘ TUỔI TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Thời gian là một thuộc tính cơ bản của tự nhiên, nhưng đó là khái niệm mà để có một định nghĩa chính xác là việc làm rất khó khăn. Trong cuộc sống hàng ngày ta có thể cảm nhận thời gian qua việc cần xác định một sự kiện xảy ra vào thời điểm nào đó (hay nói cách khác là vào một mốc thời gian nào đó) và qua việc cần xác định quãng thời gian (hay còn gọi là thời lượng) giữa hai mốc thời gian. Đại lượng thông dụng đo thời gian là năm, tháng, tuần, ngày, giờ, phút, giây.

Để xác định một sự kiện xảy ra vào thời điểm nào đó người ta sử dụng lịch để xem sự kiện đó xảy ra vào ngày, tháng, năm nào. Trường hợp cần xác định chính xác hơn, bởi sự kiện này xảy ra trong quãng thời gian rất ngắn, người ta còn phải sử dụng đồng hồ. Kim đồng hồ chỉ vào số nào trên mặt đồng hồ, thì xác định đó là giờ xảy ra sự kiện. Còn để xác định một sự kiện xảy ra trong một quãng thời gian dài hơn, nói chung người ta phải xác định mốc thời gian bắt đầu và mốc thời gian kết thúc (từ mốc này đến mốc kia). Mốc thời gian bắt đầu thường được xác định chính xác, cụ thể, còn mốc thời gian kết thúc có thể được xác định chính xác, cụ thể, nhưng cũng có thể không cần thiết phải xác định chính xác, cụ thể. Như mốc thời gian kết thúc một phiên họp, nhiều khi người ta không quy định cụ thể, mà người chủ trì phiên họp căn cứ vào diễn biến thực tế để kết thúc phiên họp vào thời điểm thích hợp. Hay khi quy định khái niệm người thành niên, Bộ Luật Dân sự định nghĩa “người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên”. Với quy định như vậy ta có thể thấy pháp luật không quy định một người đạt đến bao nhiêu tuổi, thì không còn là người thành niên, nghĩa là mốc cuối cùng là trước khi người đó chết và như vậy mốc thời gian kết thúc phụ thuộc vào tuổi thọ của mỗi cá nhân. Một đặc trưng cơ bản của thời gian là tính liên tục, không ngắt quãng của nó, nghĩa là giữa hai mốc thời gian luôn tồn tại vô số mốc thời gian khác nhau. Do đó để đo thời gian nói chung, tính tuổi người nói riêng, người ta không thể chỉ dùng đến số tự nhiên. Chẳng hạn một người không thể từ một tuổi trong giây lát thành hai tuổi, mà phải trải qua nhiều tháng, trong nhiều tháng này mỗi tháng lại có nhiều tuần, mỗi tuần lại có nhiều ngày... Điều này nảy sinh sự phức tạp trong cách xác định thời gian nói chung, xác định tuổi nói riêng, mà sau đây bài viết sẽ đề cập đến.

Giả sử chúng ta đang công tác tại một cơ quan nhà nước và cơ quan thông báo cho toàn thể cán bộ, công chức, người lao động cơ quan họp vào một ngày nào đó trong tuần, thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ, ta phải hiểu thế nào? Tất nhiên trong trường hợp này mỗi chúng ta đều hiểu và buộc phải hiểu là mình phải có mặt tại phòng họp vào sáng ngày đó, lúc kim ngắn đồng hồ chỉ vào số 8, đồng thời nếu đồng hồ chính xác thì lúc này kim dài đồng hồ chỉ vào số 12. Trong trường hợp thông báo không phải ghi như thế, mà ghi thời gian họp từ đúng 8 giờ đến 11 giờ (đây là cách dùng khá phổ biến trong thực tiễn cuộc sống) thì mỗi chúng ta vẫn phải hiểu như trên, không có gì khác. Việc thêm từ đúng ở đây chẳng qua ý của người thông báo là muốn nhấn mạnh người dự họp phải đến đúng giờ, không được trễ để khỏi ảnh hưởng đến công việc chung. Thực ra việc viết thêm như vậy là thừa và thông thường cái gì thừa sẽ dẫn đến có những cách hiểu hoặc suy luận khác nhau, làm cho việc thực hiện gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định. Bởi lẽ người ta sẽ đặt câu hỏi hai khái niệm “từ đúng 8 giờ” và “từ 8 giờ” có gì khác nhau không? Có thể sẽ có ý kiến cho rằng hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau, “từ 8 giờ” là khi kim giờ bắt đầu vượt qua số 7 (tức là vào lúc 7 giờ 1 giây), còn “từ đúng 8 giờ” là khi kim giờ quay đến chỉ vào vị trí số 8 trên mặt số đồng hồ. Chúng tôi cho rằng cách hiểu như vậy là không đúng. Từ “từ” ở đây phải hiểu là dùng để chỉ từ mốc thời gian này đến mốc thời gian kia, chứ không phải để chỉ việc kim đồng hồ bắt đầu vượt qua thời điểm chỉ giờ liền kề trước 8 giờ. Do đó việc ghép từ “từ” với “8 giờ” để trở thành thành một khái niệm mới “từ 8 giờ” là cách hiểu không đúng.

Liên hệ cách hiểu này với hình thức quy định định độ tuổi trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chúng tôi thấy rằng các văn bản pháp luật nước ta khi quy định các nội dung liên quan đến độ tuổi, hầu hết đều dùng từ “đủ” trước số tuổi. Ví dụ Điều 12 - Tuổi chịu trách nhiệm hình sự của Bộ Luật Hình sự nước ta tại khoản 1 quy định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”.

Chúng tôi cho rằng cách sử dụng từ “đủ” như vậy (cũng tương tự như việc sử dụng từ “đúng” ở ví dụ trên) là thiếu chính xác, bởi các lý do sau:

Thứ nhất, Theo cách dùng phổ biến được xã hội thừa nhận trong tất cả các ngành, lĩnh vực khoa học, thì khi nói hay viết tuổi của một người là n tuổi, nhỏ hơn (hay dưới) n tuổi, lớn hơn (hay trên) n tuổi, chúng ta đều phải hiểu là thời gian từ khi sinh ra cho đến ngày xác định độ tuổi của người đó nếu tính theo tháng thì số tháng lần lượt phải là 12 x n, nhỏ hơn 12 x n, hoặc lớn hơn 12 x n, chứ không thể có cách hiểu nào khác. Một người mới được sinh ra thì không thể nói là người đó một tuổi được. Tương tự như vậy khi nói về khối lượng, nếu một hãng hàng không quy định hành khách mang hành lý từ 20kg trở xuống không phải trả thêm cước vận chuyển hàng hóa, thì ai cũng hiểu để không phải trả thêm tiền ngoài tiền vé, khối lượng hành lý của mình mang theo khi đặt lên bàn cân thì kim trên mặt đồng hồ cân không được vượt quá số ghi 20kg trên đó. Trong các ví dụ này nếu nói hoặc viết thêm “đủ n tuổi”, “nhỏ hơn đủ n tuổi”, “lớn hơn đủ n tuổi”, hay “từ đủ 20kg trở xuống” thì chỉ làm cho cụm từ lủng củng, khó hiểu hơn mà thôi. Mặt khác, cách viết này thường dẫn đến sự mâu thuẫn, thiếu nhất quán ngay trong mỗi văn bản pháp luật. Ví dụ Điều 68 - Áp dụng Bộ Luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ Luật Hình sự không trái với những quy định của chương này”. Rõ ràng điều luật trên thể hiện sự thiếu nhất quán trong cách viết độ tuổi. Bởi nếu nhất quán trong cách viết thì Điều luật này phải trình bày như sau: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới đủ 18 tuổi phạm tội ...”. Do cách trình bày thiếu nhất quán như vậy, nên trong Bộ Luật Hình sự xuất hiện hai khái niệm “đủ 18 tuổi” và “18 tuổi”. Về khái niệm “18 tuổi” thì chúng ta đều phải hiểu là nếu tính theo số tháng thì 18 tuổi là 12 x 18 tháng, hay nói cách khác một người 18 tuổi đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 18 của người đó, chứ không thể hiểu khác, bởi nếu hiểu khác, khi đó khái niệm “dưới 18 tuổi” sẽ phải hiểu khác với cách hiểu thống nhất hiện nay (cách hiểu thống nhất hiện nay một người dưới 18 tuổi là chưa đến ngày sinh nhật lần thứ 18 của người đó). Như vậy, hai khái niệm “18 tuổi” và “đủ 18 tuổi” sử dụng trong Bộ Luật Hình sự về nội dung thực chất không có gì khác nhau. Nên việc thêm từ “đủ” trước số tuổi là không cần thiết.

Thứ hai, Cách dùng từ “đủ” đặt trước số tuổi, gây nên sự hiểu sai về cách quy định tuổi ở những trường hợp khác. Xin dẫn chứng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, tại Điều 9 - Điều kiện kết hôn quy định như sau: “Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau:

  1. Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên;

  2. ........... ”.

Về Điều luật này, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 02/ 2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000 đều hướng dẫn nam từ 20 tuổi trở lên được hiểu là nam đã bước sang tuổi 20, nghĩa là 19 tuổi + 1 ngày, tương tự như vậy nữ từ 18 tuổi trở lên được hiểu là nữ đã bước sang tuổi 18, nghĩa là 17 tuổi + 1 ngày. Như đã phân tích ở phần trước, chúng tôi cho rằng hướng dẫn như vậy là không đúng, bởi từ “từ” ở Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để chỉ một quãng thời gian có mốc đầu và mốc cuối (mốc cuối trong trường hợp này không được định cụ thể), chứ không thể hiểu theo cách ghép từ “từ” với cụm từ “20 tuổi” thành khái niệm “từ 20 tuổi” để hiểu “từ 20 tuổi là bắt đầu bước qua tuổi 20, hay đó là 19 tuổi + 1 ngày. Chúng ta phải khẳng định một người đạt độ tuổi 20 đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 20 của người đó (đây cũng là cách hiểu phổ biến ở các nước trên thế giới), do đó nếu hiểu đúng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, thì từ thời điểm này người đó (đối với nam) mới được kết hôn.

Cách hiểu Điều 9 - Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 như hướng dẫn tại Nghị định 70 và Nghị quyết 02 nói trên sẽ dẫn đến mâu thuẫn sau: Giả sử do cần hạ độ tuổi kết hôn, Điều luật này được sửa đổi lại như sau: “Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau:

  1. Nam từ 19 tuổi 6 tháng trở lên, nữ từ 17 tuổi 6 tháng trở lên; ............”

Không cần phải tính toán, suy nghĩ nhiều, mọi người chúng ta đều phải thừa nhận quy định mới là hạ độ tuổi kết hôn của nam và nữ 6 tháng so với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Nhưng nếu theo cách hiểu như Nghị định 70 và Nghị quyết 02 nói trên thì từ 20 tuổi (= 19 tuổi + 1 ngày) phải nhỏ hơn từ 19 tuổi 6 tháng, bởi lẽ khi nói một người 19 tuổi 6 tháng thì mọi người đều phải hiểu là người đó đã vượt qua sinh nhật lần thứ 19 của mình được 6 tháng. Như vậy, rốt cuộc quy định mới lại làm tăng độ tuổi được kết hôn của nam và nữ, chứ không phải là giảm độ tuổi kết hôn của họ.

Có lẽ nhận thức được cách hướng dẫn về độ tuổi kết hôn của nam và nữ như Nghị định 70 của Chính phủ và Nghị quyết 02 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nói trên là có vấn đề, nên Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tại Điều 8 về điều kiện kết hôn đã quy định lại như sau:

“1. Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a. Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; ........... ”.

Tuy nhiên, như chúng tôi đã phân tích thì chúng ta có thể thấy thực chất độ tuổi kết hôn giữa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là như nhau, không có gì thay đổi, chỉ khác cách trình bày, trong đó cách viết như Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 là chính xác hơn. Lẽ ra cách viết này cần phải được giữ lại và để cách viết độ tuổi được nhất quán, không mâu thuẫn trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, cần thay đổi cách viết ở các văn bản pháp luật khác, theo đó bỏ từ “đủ” trước tuổi ở các nội dung có quy định về độ tuổi. Đây là việc làm liên quan đến nhiều văn bản luật, tuy nhiên thực tế là chỉ cần thực hiện việc sửa đổi bỏ từ “đủ” ở các văn bản luật này một lần, thông qua việc sửa đổi một bộ luật hay luật nào đó.

Tác giả: HOÀNG QUẢNG LỰC
Luật sư, nguyên Phó Chánh án TAND tỉnh Quảng Bình

Bài viết liên quan